Nái đang ở giới hạn: dinh dưỡng và tuổi thọ trước tình trạng gia tăng tỷ lệ tử vong

20-Th10-2026
X
XLinkedinWhatsAppTelegramTelegram

Alba Rojas

Bác sĩ thú y, bộ phận kỹ thuật, PRODUMIX S. A.

Tỷ lệ tử vong ở nái sinh sản đã không còn là một chỉ số thứ yếu mà trở thành một trong những thách thức chính của ngành chăn nuôi lợn hiện đại. Điều này không chỉ đồng nghĩa với việc mất đi một con vật có giá trị di truyền và năng suất, mà còn làm thay đổi cơ cấu đàn, làm tăng nhu cầu thay thế và số ngày không sản xuất, đồng thời có thể ảnh hưởng đến phúc lợi động vật và sự ổn định về sức khỏe của trang trại.

Diễn biến được mô tả trong những thập kỷ gần đây là điều khó có thể bỏ qua. Palomo (2025) chỉ ra rằng, trong khi vào cuối thế kỷ XX mục tiêu là duy trì tỷ lệ tử vong dưới 5%, thì vào đầu năm 2025, mức trung bình ghi nhận trong các hệ thống sản xuất khác nhau tại châu Âu, Bắc Mỹ và Mỹ Latinh vào khoảng 12,5%, với các giá trị dao động từ 8 đến 25%. Trong phân tích hồi cứu của ông về các trang trại Tây Ban Nha từ năm 2001 đến 2005, tỷ lệ tử vong trung bình là 6,35 ± 3,0%, so với 5,45% được ghi nhận tại Brazil và 7,80% tại Hoa Kỳ trong cùng giai đoạn. Dựa trên những dữ liệu này, tác giả chỉ ra mức tăng xấp xỉ 0,3 điểm phần trăm mỗi năm và nhận thấy rằng diễn biến này diễn ra song song với sự gia tăng khả năng sinh sản. So sánh này phải được hiểu là một mối liên hệ mang tính mô tả, không phải là bằng chứng về quan hệ nhân quả. Là một tài liệu tham khảo độc lập, PigCHAMP ghi nhận mức tăng từ 8,12% vào năm 2012 lên 14,86% vào năm 2021.

Biểu đồ 1. Diễn biến theo thời gian[ZT1] của tỷ lệ tử vong ở nái tại Tây Ban Nha từ năm 2015 đến 2024. Ghi chú. Điều chỉnh từ Font et al. (2026). Các điểm biểu thị trung vị và các thanh sai số biểu thị khoảng tứ phân vị.

[ZT1]The Word file contains captions and source notes for Charts 1 and 2 and Figures 1 and 2, but the actual visuals are missing. Please insert the corresponding visuals, or confirm that they will be supplied separately for layout. Please ensure that all chart labels and legends are translated into Vietnamese.

Hậu quả kinh tế vượt xa giá trị trực tiếp của con vật. Các chi phí trực tiếp bao gồm sự gia tăng tỷ lệ thay thế, tích lũy số ngày không sản xuất và các chi phí thú y hoặc điều trị liên quan. Bên cạnh đó là các chi phí gián tiếp phát sinh từ việc mất tiến bộ di truyền, nhu cầu tạm thời duy trì những nái có năng suất thấp hơn để đáp ứng mục tiêu sản xuất và việc đưa vào đàn số lượng hậu bị lớn hơn, một quần thể cần được quản lý riêng và có thể làm tăng tính dễ tổn thương về sức khỏe của đàn. Khi xem xét cả chi phí thực tế lẫn thu nhập không thể tạo ra, tác động kinh tế của việc một nái chết tại trang trại nằm trong khoảng 950 đến 1.050 euro (Palomo et al., 2025).

Tỷ lệ tử vong và thay thế: có liên quan nhưng không tương đương

Tỷ lệ thay thế cao không có nghĩa là tất cả nái đều đã chết. Việc thay thế bao gồm loại thải có kế hoạch, loại thải do năng suất thấp hoặc vấn đề sức khỏe, các vấn đề sinh sản và tử vong tự phát. Việc phân biệt các nhóm này là điều thiết yếu để tránh việc một vấn đề về khả năng sống sót bị che khuất trong các hồ sơ chung.

Biểu đồ 2 trình bày các nguyên nhân nái rời đàn trong bộ dữ liệu BDporc gồm 81.981 nái lông trắng từ 162 trang trại Tây Ban Nha. Tất cả nái được đưa vào đàn sau năm 2019 và rời đàn trong năm 2023. Tỷ lệ 12% là tỷ trọng các ca tử vong trong tổng số nái rời đàn được phân tích, không phải tỷ lệ tử vong hằng năm của toàn đàn.Biểu đồ 2. Phân bố các nguyên nhân loại thải được ghi nhận tại các trang trại Tây Ban Nha trong năm 2023.

Ghi chú. Điều chỉnh từ Arrazola et al. (2025), “Principales motivos de baja y mortalidad en cerdas reproductoras de granjas españolas”, Tierras Porcino, số 8, tr. 26–29.

Tỷ trọng của các nhóm nguyên nhân ít cụ thể cho thấy chất lượng ghi chép có ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa.
 

Một vấn đề không có nguyên nhân duy nhất

Việc quy sự gia tăng tỷ lệ tử vong chỉ cho di truyền, sức khỏe hoặc dinh dưỡng sẽ dẫn đến một chẩn đoán không đầy đủ. Nái hiện đại kết hợp khả năng sinh sản cao hơn, sản lượng sữa cao và cường độ sinh sản lớn, làm tăng nhu cầu chuyển hóa, đặc biệt trong giai đoạn quanh đẻ và nuôi con. Khả năng đáp ứng của nái đồng thời phụ thuộc vào thể trạng, tuổi, khả năng vận động, tình trạng tim mạch, môi trường, chuồng trại, khả năng tiếp cận nước và thức ăn, quản lý và sự hiện diện của bệnh tật.

Monteiro et al. (2022) đã khám nghiệm 123 nái, gồm 100 nái chết tự phát và 23 nái được an tử. Trong nhóm chết tự phát, 53% số ca xảy ra trong giai đoạn quanh đẻ. Khoảng 75% số nái được khám nghiệm có tổn thương ở nhiều hệ cơ quan. Chết tự phát liên quan đến suy tim, loét dạ dày xuất huyết hoặc thủng và xoắn gan; các ca an tử liên quan nhiều hơn đến rối loạn vận động. Các trường hợp tử vong quanh đẻ liên quan đến suy tim, rối loạn sinh dục–tiết niệu và sa tạng. Trong một nghiên cứu quan sát khác tại 48 trang trại ở Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong có liên quan đến tử vong đột ngột, què và sa tạng, bên cạnh các yếu tố sức khỏe — như tình trạng dịch tễ đối với PRRS — và một số điều kiện chuồng trại nhất định (Paiva et al., 2023).
 

Hình 1. Các yếu tố đa nguyên nhân liên quan đến tỷ lệ tử vong ở nái

 

Ghi chú. Tự biên soạn dựa trên Monteiro et al. (2022), Paiva et al. (2023) và Monteiro et al. (2025).

Một khẩu phần không thể tự nó «giải quyết» vấn đề này. Dinh dưỡng phải được sử dụng để tăng khả năng chống chịu và giảm các yếu tố nguy cơ, trong một chương trình bao gồm chẩn đoán, sức khỏe, môi trường, quản lý và theo dõi từng cá thể.

Dinh dưỡng để duy trì, không chỉ để sản xuất

Duy trì thể trạng chức năng

Ưu tiên đầu tiên là tránh các trạng thái cực đoan. Nái có thể trạng thấp có nguy cơ cao hơn gặp các vấn đề vận động và bị loại thải sớm, trong khi thể trạng quá mức có liên quan đến nguy cơ suy tim cao hơn, giảm lượng thức ăn tiêu thụ trong thời kỳ nuôi con và tổn thất thể trạng sau đó nghiêm trọng hơn (Monteiro et al., 2022; Muro et al., 2022). Đường cong cho ăn phải được điều chỉnh theo số lứa đẻ, di truyền, khối lượng và dự trữ cơ thể, thay vì áp dụng một lượng đồng nhất cho toàn bộ đàn.

Các bằng chứng cũng không ủng hộ việc tăng thức ăn một cách không phân biệt vào cuối thai kỳ. Trong một nghiên cứu với 135 nái siêu sinh sản, chế độ ăn gần mức duy trì làm giảm khả năng duy trì đến lứa đẻ thứ năm, nhưng việc tăng lượng thức ăn muộn cũng dẫn đến tăng khối lượng nhiều hơn và tổn thất sau đó lớn hơn. Các tác giả kết luận rằng bump feeding phải được điều chỉnh dựa trên đánh giá thể trạng (Ferreira et al., 2021).

Biến lượng thức ăn tiêu thụ thành một tín hiệu cảnh báo

Lượng thức ăn được xây dựng trong công thức không nhất thiết tương đương với lượng thực tế được ăn vào. Sai sót trong định lượng, cạnh tranh, hỏng hóc thiết bị, bệnh tật, đau hoặc stress có thể tạo ra những giai đoạn tiêu thụ thấp. Vargovic et al. (2021), sử dụng dữ liệu từ hệ thống cho ăn điện tử trong giai đoạn mang thai, ghi nhận rằng lượng ăn thấp, bỏ bữa và những ngày có lượng ăn thấp bất thường có liên quan đến kết quả bất lợi khi đẻ và trong thời kỳ nuôi con, cũng như việc loại thải trong vòng 35 hoặc 60 ngày sau đẻ.

Do đó, chương trình dinh dưỡng phải bao gồm việc kiểm tra lượng thức ăn thực tế và hành vi ăn uống. Một sự sai lệch so với mô hình thông thường có thể là tín hiệu cảnh báo sớm hữu ích hơn so với lượng tiêu thụ trung bình của cả nhóm.

Xem giai đoạn chuyển tiếp như một giai đoạn riêng biệt

Quá trình chuyển từ mang thai sang nuôi con tập trung nhiều thay đổi về chuyển hóa và quản lý, đồng thời trùng với một phần đáng kể các ca tử vong. Việc duy trì khẩu phần hạn chế của giai đoạn mang thai cho đến khi đẻ rồi đột ngột thay thế bằng khẩu phần nuôi con có thể gây khó khăn cho quá trình thích nghi tiêu hóa và chuyển hóa.

Khẩu phần chuyển tiếp phải duy trì nhu động ruột, hạn chế táo bón và đảm bảo cung cấp hiệu quả năng lượng và axit amin. Chất xơ có vai trò quan trọng, nhưng không nên chỉ được mô tả là «xơ thô»: độ hòa tan, khả năng lên men, khả năng giữ nước và ảnh hưởng đến thể tích khẩu phần quyết định đáp ứng sinh lý. Tăng lượng chất xơ trước khi đẻ có thể làm giảm táo bón; tuy nhiên, bằng chứng hiện tại vẫn chưa cho phép khẳng định rằng riêng chất xơ có thể trực tiếp làm giảm tỷ lệ tử vong ở nái (Monteiro et al., 2025; Dumniem et al., 2024).

Bảo vệ lượng thức ăn tiêu thụ trong thời kỳ nuôi con

Nhu cầu trong thời kỳ nuôi con thường vượt quá khả năng ăn vào, đặc biệt ở nái đẻ lứa đầu. Sự thiếu hụt được bù đắp bằng cách huy động mỡ và protein cơ thể, và việc mất quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và thời gian duy trì trong trang trại. Cần ưu tiên khả năng tiếp cận nước liên tục, điều chỉnh máng ăn, tần suất cung cấp thức ăn, vệ sinh thức ăn và các biện pháp chống stress nhiệt. Trong thời tiết nóng, điều chỉnh thành phần và thời gian cho ăn có thể bổ sung — nhưng không bao giờ thay thế — hệ thống thông gió, làm mát và nước.

Xem xét dạng vật lý và độ an toàn của thức ăn

Loét dạ dày-thực quản nằm trong số những phát hiện post mortem được mô tả ở nái. Khi tình trạng này tái diễn, cần kiểm tra kích thước hạt, tỷ lệ hạt mịn, quá trình chế biến, dạng bột hoặc viên, tính liên tục của việc cung cấp thức ăn và đặc điểm chất xơ. Khẩu phần được nghiền quá mịn và ép viên có liên quan đến nguy cơ tổn thương dạ dày cao hơn, mặc dù bằng chứng cụ thể ở nái còn hạn chế hơn (Monteiro et al., 2025).

Vitamin, khoáng chất và phụ gia chức năng phải được xây dựng theo nhu cầu, nguyên liệu và tình trạng sức khỏe. Việc điều chỉnh tình trạng thiếu hụt là điều thiết yếu; sử dụng liều trên mức dinh dưỡng mà không có chẩn đoán không thể thay thế việc xem xét lại chương trình, cũng như nhìn chung không có đủ bằng chứng để hứa hẹn giảm trực tiếp tỷ lệ tử vong.

Vượt ra ngoài năng suất: dinh dưỡng để kéo dài thời gian sử dụng của nái

Cách tiếp cận phải bắt đầu bằng việc phân biệt tử vong, an tử, loại thải không tự nguyện và loại thải theo kế hoạch; ghi nhận từng trường hợp theo số lứa đẻ và giai đoạn; thực hiện các ca khám nghiệm tử thi đại diện; và đối chiếu thông tin với thể trạng, lượng thức ăn tiêu thụ, thời điểm trong năm, chuồng trại và tình trạng sức khỏe. Sau đó, việc đánh giá dinh dưỡng phải so sánh công thức với lượng thức ăn thực tế, xem xét đường cong cho ăn theo số lứa và thể trạng, đánh giá khẩu phần chuyển tiếp và kiểm tra máng ăn, nước và chất lượng vật lý của thức ăn.

Tỷ lệ tử vong cao không chỉ là một vấn đề dinh dưỡng, nhưng cũng không thể được giải quyết nếu thiếu dinh dưỡng. Mục tiêu không còn nên là nuôi dưỡng nái để đạt đến lứa đẻ tiếp theo, mà là duy trì chức năng chuyển hóa, vận động và sinh sản của nó trong nhiều chu kỳ. Tuổi thọ sản xuất sẽ là kết quả của việc tích hợp dữ liệu đáng tin cậy, chẩn đoán lâm sàng, quản lý cẩn thận và các chương trình cho ăn có khả năng thích ứng với từng giai đoạn và từng cá thể.

Hình 2. Chương trình dinh dưỡng theo từng giai đoạn.

Ghi chú. Tự biên soạn dựa trên Ferreira et al. (2021), Vargovic et al. (2021), Muro et al. (2022), Dumniem et al. (2024) và Monteiro et al. (2025).

 

X
XLinkedinWhatsAppTelegramTelegram
1 ThíchBình luậnMục yêu thích của tôi

Liên hệ:

Liên hệ với chúng tôi bằng biểu mẫu sau.